|
Trong vòng năm – mười năm gần đây, việc tổ chức đám cưới ở Việt Nam
ngày càng vui nhộn, sang trọng. Tất nhiên mọi người đều có quyền tổ chức
đám cưới theo khả năng của mình. Nhưng nếu muốn có một lễ cưới phù hợp
nếp sống mới và mang dấu ấn của thuần phong mỹ tục Việt Nam thì còn
nhiều điều phải xem lại.

Phần nghi lễ ở tư gia
Nhìn chung tạm ổn. Nhưng một số gia đình còn duy trì tục lệ bắt cô dâu,
chú rể lạy sống ông bà, cha mẹ là quá đáng. Chỉ cần làm lễ trước bàn thờ
là đủ. Trong những mâm quả thường có nguyên một buồng cau và một xấp lá
trầu, bưng rất nặng mà sau lễ không biết làm gì cho hết, thường đem bỏ
vào thùng rác. Thế thì cau trầu không cần nhiều, chỉ cần một dĩa têm sẵn
thật đẹp và có thể ăn được. Ai ăn? Chính là cô dâu và chú rể.
Hai người mời nhau ăn một miếng cau – trầu thật sự cho đôi môi đỏ
thắm, tinh thần bớt căng thẳng, cử chỉ bớt ngượng ngập, lúng túng. Các
cô dâu bây giờ tốn rất nhiều tiền đi trang điểm để đổi lấy một khuôn mặt
đầy phấn sáp, dày như cái bánh kem và nét mặt vô hồn, vô cảm, khác xa
với bộ mặt thường ngày. Ăn cau trầu chính là cách làm cho khuôn mặt có
hồn, sinh động.
Tất nhiên phải tập ăn vài lần. Nhưng chỉ tập năm, mười phút mà phục
hồi được một tục lệ cả ngàn năm, sao lại không? Phong tục này, người
Việt Nam hầu như đã vứt bỏ nhưng nam nữ thanh niên Đài Loan lại nhặt lên
và biến thành một thời thượng. Ăn cau trầu nhổ bã khắp nơi, bị cảnh sát
phạt nặng như họ thì không nên, nhưng một đời ăn một lần để tạo ấn
tượng và phong cách văn hoá dân tộc thì nên lắm chứ.
Gừng thuộc dương, muối thuộc âm, tượng trưng cho sự kết hợp vợ chồng.
Giả sử không muốn ăn trầu cau thì có thể thay bằng một đĩa đựng những
hạt muối và mấy lát gừng để cô dâu chú rể mời nhau. Đó cũng là nét đẹp
văn hoá. Đám cưới người Khmer có tục cột chỉ đỏ. Chú rể phải cột vào
cườm tay cô dâu những sợi chỉ thêu màu đỏ- buộc đến khi nào cô dâu thấy
đủ để giữ chặt tình yêu và hạnh phúc của hai người thì sẽ bảo chú rể
ngưng. Tục lệ này họ vẫn giữ được cho đến ngày nay. Ta cũng có tục, sao
không gìn giữ?
Ở nhà hàng
Đáng phàn nàn nhất là việc chủ – khách chờ nhau quá lâu trước giờ khai
mạc. Giấy mời ghi 17g mà đến 19g – 19g30 buổi lễ mới bắt đầu; 20g mới
vào tiệc thì mọi người đều đã mệt mỏi. Thời gian tiếp đón khách chỉ nên
kéo dài chừng 1 giờ là vừa. Muốn cải thiện việc này không phải là không
có cách. Chỉ cần khách, chủ và chủ nhà hàng hợp tác với nhau vài lần để
tạo tiền lệ là được. Có những đám cưới thừa nhiều bàn trống vì khách mời
không đến. Không đến thì nên báo trước cho chủ để kịp điều chỉnh chỗ
ngồi và khẩu phần, đỡ lãng phí.
Cô dâu chú rể và hai sui gia đã đón khách ở ngoài cổng, ra mắt trên
sân khấu thì nên miễn khâu đi chào bàn. Đi cho hết bốn – năm chục bàn
thì rã rời, đêm động phòng chỉ có nước nằm lăn ra ngủ, còn gì là xuân?
Đám cưới ở nhà hàng rất cần MC nhưng nhiều MC giới thiệu quá dài dòng,
nhập đề bằng những câu sáo rỗng, yêu cầu cô dâu chú rể làm những điều
nhảm nhí như mời rượu phải ngoéo tay, hôn nhau thật mùi mẫn, chú rể ẵm
cô dâu đi vài vòng… Vậy nên chăng, cần có một lớp huấn luyện đào tạo MC
để họ khỏi cầm cương tầm bậy.
Nếu cô dâu không có dáng người đẹp thì có thể mặc áo voan để che giấu
bớt nhược điểm. Nhưng nếu có dáng người đạt chuẩn thì bộ quần áo dài
Việt Nam đủ sức tôn vinh, cần gì cái áo voan đuôi dài kia chứ?
Am nhạc trong đám cưới cũng là một nét văn hoá đáng chú ý. Các đám
cưới ở nhà hàng hiện nay thường dùng bài Happy New Year và Eve Maria làm
nhạc nền. Giai điệu của những bài đó rất tuyệt vời nhưng ý nghĩa, nội
dung ca từ không ăn nhập gì với đám cưới Việt Nam. Chí ít cũng có vài
chục ca khúc khác thích hợp hơn. Xin thử kể một số: Xuân và tuổi trẻ của
La Hối, Cánh thiệp đầu xuân, Ly rượu mừng (Văn Phụng), Gái xuân (thơ
Nguyễn Bính, nhạc Vũ Thành), Bài ca hy vọng (Văn Ký), Thiên thai (Văn
Cao), Lý ngựa ô, Duyên quê. Nhạc ngoại thì có One day, La vie en
rose…giá có ai đó chịu khó tuyển chọn hàng băng đĩa chuyên dùng cho đám
cưới thì hơn là thả nổi thứ văn hoá này cho các công ty dịch vụ, nhà
hàng, MC…
Thời chiến tranh, ở miền Bắc và ở chiến khu, đám cưới được tổ chức
đơn giản, gọi là đám tuyên bố. Thủ trưởng cơ quan cô dâu và cơ quan chú
rể thay mặt gia đình và chính quyền xác nhận hôn nhân hợp pháp. Về vật
chất chỉ có kẹo, bánh, trà, thuốc lá hoặc nhiều lắm là một bữa cơn thân
mật.
Tôi cũng có một lần tham dự đám cưới của một đôi vợ chồng bụi đời,
sống bên lề đường. Họ kêu một xe phở, một xe mì gõ đến bày chừng bốn –
năm bộ bàn ghế phục vụ chừng vài chục khách. Lễ cưới diễn ra trước hiên
nhà tôi nên tôi cũng được mời. Từ đám cưới thật nghèo đến đám cưới thật
sang tôi đều có dự. Cái này không phải, cái kia cũng chưa phải là đám
cưới Việt Nam.
Nên tôi nghĩ chúng ta cần phải tìm kiếm, xây dựng và vận động để có
một mô hình văn hoá thích hợp hơn.
Theo – Người lao động
|